fbpx

Thật sự chưa nơi nào khiến tôi gặp nhiều khó khăn khi viết lại những gì mình cảm nhận được như Tây Tạng. Tôi không biết bắt đầu như thế nào. Có quá nhiều điều để kể, để nhớ, cảm xúc thì ăm ắp mà câu chữ dường như bất lực.

Chuyến bay từ Thành Đô khởi hành từ sáng sớm. Gà gật suốt chặng đầu, cho đến khi ngoài cửa sổ máy bay hiện ra những dãy núi tuyết hùng vĩ, lớp lớp núi, trùng trùng mây, niềm xúc động dâng trào, tôi biết mình sắp đến một nơi tôi hằng mơ ước. “Nơi ấy cách bầu trời rất gần, cách giấc mơ rất xa” (Bạch Lạc Mai), giấc mơ của tôi đang dần thành hiện thực. Những ngày tới, tôi sẽ rong ruổi qua những con đường mây trắng, những bình nguyên bao la, tôi sẽ đến với những hồ thiêng, những tu viện cổ kính thâm trầm, chạm vào bờ tường đất đỏ như son mà nghe vang vọng câu chuyện lịch sử hàng nghìn năm.

Con đường từ sân bay Gongkhar về Lhasa đi qua những sườn núi thoai thoải. Lhasa dù ở độ cao 4.000m nhưng lại là vùng thung lũng. Tôi bắt đầu quen với cảnh mây và núi ngay trước mặt, trong tầm tay. Càng gần đến Lhasa, những công trình hiện đại càng nhiều, tôi còn thấy cả khu vui chơi giải trí đang được xây dựng, một vòng đu quay lớn chỏng chơ, thô kệch đứng giữa công trường ngổn ngang. Tôi chợt nghĩ, may mà mình đã kịp đến đây, liệu vài năm nữa, còn sót lại bao nhiêu bản sắc của người Tạng trên miền đất này?

Ngày thứ hai ở Lhasa, tôi tranh thủ dậy sớm, sau đêm mưa, không khí ở độ cao trên 4.000m tinh khiết vô ngần. Tôi không gặp khó khăn gì với bầu không khí loãng, trái lại tôi còn thấy dễ chịu. Tôi đi theo con đường dẫn vào phố Barkhor, sáng đầu ngày, khu phố sinh hoạt của người Tạng dần dần chuyển động. Những quầy hàng bắt đầu được dọn ra. Từng tảng thịt bò Yak đỏ mọng treo lủng lẳng, gian hàng hoa tươi thắm, giỏ rau rừng mướt xanh, cuộc sống hàng ngày của người Tạng diễn ra rất đỗi bình dị. Tôi vô tình bước vào một ngôi đền (mà sau tôi mới biết đó chính là Tiểu Chiêu tự, được xây cho công chúa Văn Thành). Mới sáng sớm nhưng không ít người đã đến đảnh lễ, trên sân còn vương vãi nhiều vũng nước mưa, ai ai cũng thành kính, trang nghiêm hành lễ, từng động tác “ngũ thể nhập địa” đều hết sức kính cẩn. Không khí linh thiêng bao trùm, tôi cảm giác như đang được ban phước lành. Có lẽ không nơi nào đức tin lại tự nhiên đến thế, như khí trời, như hơi thở.

Trong tác phẩm Mùi hương trầm, Nguyễn Tường Bách đã trích câu dẫn của G.Tucci, nhà Phật học và Tây Tạng học người Ý: “Từ Lhasa ra đi không giống như từ giã một thành phố nào đó. Dễ trở lại một nơi nào bất kỳ, nhưng Lhasa là không thể đạt tới, hầu như nó nằm ngoài thế giới này. Từ đó ra đi cũng như tan một giấc mơ mà không biết rằng nó có trở lại không.”

Những ngày ngắn ngủi ở Lhasa, chiều nào tôi đến cũng đến đài ngắm cảnh đối diện Potala. Linh hồn của Tây Tạng là đây, cung điện Potala kiêu hãnh tọa lạc trên ngọn Hồng đồi, nhìn toàn cảnh Lhasa. Có hôm hoàng hôn đổ nắng, Potala sáng bừng như dát vàng, có hôm mây đen cuồn cuộn như muốn nuốt chửng cả tòa cung điện, Potala toát lên vẻ trang nghiêm, lãnh đạm

Trong dòng người tấp nập đến Potala, ngoài tấm lòng mộ đạo thành kính, có bao nhiêu người đến vì lần theo dấu chân một vị Đạt Lai Lạt Ma mà cuộc đời của ngài là cả câu chuyện truyền kỳ. Thân tại Phật môn, nhưng trái tim lại quyến luyến hồng trần, duyên tình vương vấn. Thế gian hữu tình, điện Potala cao vọng, nguy nga là thế, sao trói buộc được vị tình tăng lãng mạn. Có phải hơn ba trăm năm trước, chính tại Potala, trước điện Phật, ngọn đèn bơ giữa khuya leo lét, ngài đã trải lòng bằng những câu thơ đầy ngang trái, bi ai mà không bi luỵ:

"Tu hành tình vẫn trót đa mang,
Lên non e lỡ khách hồng nhan.
Thế gian sao có đôi đường vẹn,
Chẳng phụ Như Lai chẳng phụ nàng.”
(Thương Ương Gia Thố)

Nơi đây, từng ngọn cây cọng cỏ đều có tính Phật. Nơi đây, du dương những bài tình ca tha thiết, có vị tình tăng thà từ bỏ vị trí tối cao, chỉ để rong chơi giữa chốn hồng trần. Bao nhiêu người từng như ngài, đôi đường giằng xé, tìm đến đây cho vơi nỗi niềm sâu kín?

Đêm cuối ở Lhasa, tôi dạo một vòng quanh Bakhor, vô tình bước chân dẫn lối vào Jokhang (Đại Chiêu Tự). Hơn mười giờ đêm, các cửa hàng dần đóng cửa, con phố ban ngày nhộn nhịp chìm vào tĩnh lặng. Những sắc màu sặc sỡ lẫn trong bóng tối. Bức tường trắng của điện Jokhang nổi bật giữa quảng trường rộng lớn. Đêm về, không còn những người hành hương, không còn tiếng rì rầm cầu nguyện, trái tim Lhasa êm đềm say ngủ.

Trên đường về, bác xe thồ gồng lưng, nặng nề đạp từng vòng xe lên dốc. Lhasa trong đêm rực rỡ bảng hiệu nhấp nháy, gió thổi ngược lồng lộng, thấp thoáng đằng xa những đỉnh núi tuyết trầm mặc. Tôi mân mê sợi dây có hình nút thắt vô tận trên tay. Cuộc đời miên viễn, luân hồi, không bắt đầu, không kết thúc. Chúng ta chỉ là những khách lữ hành tạt qua thế giới này, gặp gỡ nhau đã là duyên, đoạn đường ngắn hay dài cũng là duyên.

Trong tâm trí tôi nhớ lại bài ca du mục mà đêm đầu tiên ở Lhasa, khi ngắm cảnh đêm ở Potala về được một anh xe thồ hát cho nghe. Người Tây Tạng còn nghèo vật chất, nhưng giàu có về tâm hồn. Những con người thuần thành, bước đi trên phố tay cầm chuỗi hạt, tay quay kinh luân, miệng lẩm nhẩm niệm kinh: Om mani padme hum... Đằng sau những khuôn mặt hằn vết chai sạn của thời tiết khắc nghiệt là những tâm hồn khát khao tự do, ung dung tự tại, như cánh chim tung bay giữa trời...

MỌI THỨ ĐANG CHỜ BẠN

Đi và trở về với ít nhiều thay đổi!